Tiếng Việt lớp 4 - Bài 12: Đọc hiểu Hai anh em mồ côi (Bài tập tương tác)

Tiếng Việt lớp 4 – Bài 12: Đọc hiểu HAI ANH EM MỒ CÔI

Bài tập tương tác: đọc hiểu – luyện từ và câu – tập làm văn, có kiểm tra đáp án, gợi ýgiải thích. Em hãy đọc kỹ bài rồi làm từng câu nhé!

Đọc đoạn văn sau:

HAI ANH EM MỒ CÔI

(trích)

Ngày xửa ngày xưa, có hai anh em mồ côi cha mẹ. Nhà tuy nghèo nhưng hai anh em rất thương yêu nhau. Hàng ngày, anh lên rừng kiếm củi bán lấy tiền nuôi em. Cô em gái ở nhà chăm sóc một mảnh vườn rau. Cô vui tươi như chú chim non, tuy làm lụng vất vả nhưng miệng luôn luôn ca hát. Ngày ngày, một bầy chim nhỏ đến giúp cô bắt sâu, nhặt cỏ và nô đùa, ca hát với cô.

Tiếng hát của cô được gió mang đi khắp nơi. Một hôm, tiếng hát thanh tao ấy lọt vào tai một con quỷ dữ. Nó sục sạo khắp nơi và tìm bắt được bầy chim và cô bé. Quỷ ác mang lên núi cao, nhốt cô bé và bầy chim vào chiếc lồng sắt. Nó hi hửng chờ nghe tiếng hát của cô. Cô bé nhớ anh, nhớ xóm làng, ngồi ủ rũ trong chiếc lồng không buồn cất tiếng hát. Bầy chim cũng lặng im.

Người anh đi kiếm củi về, không thấy em đâu. Anh ta gọi khản cả cổ suốt ngày đêm mà không thấy tiếng em gái đáp lại. Tìm khắp nơi cũng không thấy em đâu, anh bồn chồn thương em vô hạn. Được tin em bị quỷ ác bắt, người anh vội vã lên đường đi cứu. Anh cùng chim vượt không biết bao nhiêu núi cao, băng qua không biết bao nhiêu suối sâu, rừng rậm. Cuối cùng người anh đến nơi em gái bị quỷ ác nhốt. Người anh đã leo lên đến nơi.

Anh rút dao, chặt đứt nan lồng, giải thoát cho bầy chim và em gái. Mùa xuân lại đến. Núi rừng, thôn xóm lại rộn ràng tiếng hát lời ca của cô gái và bầy chim.

Theo Hoàng Anh Dương

Dựa vào bài đọc, em hãy trả lời các câu hỏi sau:

Câu hỏi đọc hiểu & Luyện từ và câu

Câu 1. (0,5 điểm) Hoàn cảnh của hai anh em trong câu chuyện trên như thế nào?

Đáp án: C. Ngay câu mở đầu: “có hai anh em mồ côi cha mẹ. Nhà tuy nghèo...” → hai anh em mồ côi cha mẹ và nhà nghèo.

Câu 2. (0,5 điểm) Vì sao con quỷ lại bắt cô bé?

Đáp án: C. “Tiếng hát thanh tao ấy lọt vào tai một con quỷ dữ” → con quỷ bắt cô vì muốn nghe tiếng hát hay của cô bé.

Câu 3. (0,5 điểm) Theo em, nội dung của câu chuyện trên là gì?

Đáp án: D. Câu chuyện ca ngợi tình cảm anh em: dù nghèo khó, hai anh em luôn yêu thương, đùm bọc nhau (anh vượt bao gian nan đi cứu em). Các ý A, B, C chỉ đúng một phần.

Câu 4. (1 điểm) Dùng dấu “/” để ngăn cách hai thành phần chính (chủ ngữ // vị ngữ) trong câu sau:

a) Hàng ngày, anh lên rừng kiếm củi bán lấy tiền nuôi em.

Đáp án: Hàng ngày, anh / lên rừng kiếm củi bán lấy tiền nuôi em.
(Chủ ngữ: anh; Vị ngữ: lên rừng kiếm củi bán lấy tiền nuôi em. “Hàng ngày” là trạng ngữ.)

b) Một hôm, tiếng hát thanh tao ấy lọt vào tai một con quỷ dữ.

Đáp án: Một hôm, tiếng hát thanh tao ấy / lọt vào tai một con quỷ dữ.
(Chủ ngữ: tiếng hát thanh tao ấy; Vị ngữ: lọt vào tai một con quỷ dữ.)

Câu 5. (1 điểm) Em hãy đặt câu hỏi cho bộ phận in đậm và cho biết đó là thành phần nào của câu:

a) Tiếng hát của cô được gió mang đi khắp nơi.

Đáp án: Câu hỏi: Cái gì được gió mang đi khắp nơi?
Tiếng hát của cô” là thành phần chủ ngữ.

b) Sau cơn mưa, cầu vồng thật đẹp.

Đáp án: Câu hỏi: Cầu vồng sau cơn mưa như thế nào?
thật đẹp” là thành phần vị ngữ.

Câu 6. (1 điểm) Sắp xếp các từ in đậm vào nhóm phù hợp:

Thỏ con phát hiện ra cây hồng. Cây chỉ có một quả, quả lại còn xanh. Thỏ nghĩ: “Chờ hồng chín, mình sẽ thưởng thức vị ngọt lịm của nó.”. Hằng ngày, thỏ chăm chỉ tưới nước cho cây.

Với mỗi từ, chọn nó thuộc nhóm Động từ chỉ trạng thái hay Động từ chỉ hoạt động:

• phát hiện

“phát hiện” là động từ chỉ hoạt động.

• chờ

“chờ” là động từ chỉ trạng thái.

• nghĩ

“nghĩ” là động từ chỉ trạng thái.

• thưởng thức

“thưởng thức” là động từ chỉ hoạt động.

• tưới nước

“tưới nước” là động từ chỉ hoạt động.
Bảng phân loại:
Động từ chỉ trạng thái: nghĩ, chờ
Động từ chỉ hoạt động: phát hiện, thưởng thức, tưới nước

Câu 7. (1 điểm) Trong các trường hợp dưới đây, đâu là câu hoàn chỉnh? Vì sao?

Đáp án: B. Câu “Kim Đồng là một chiến sĩ liên lạc.” là câu hoàn chỉnh vì các từ được sắp xếp theo trật tự hợp lí, có đầy đủ chủ ngữ và vị ngữ, diễn đạt một ý trọn vẹn, chữ cái đầu câu viết hoa và cuối câu có dấu kết thúc. Các phương án A, C, D chỉ là cụm từ, chưa thành câu.

Câu 8. (0,5 điểm) Dấu gạch ngang trong trường hợp sau có công dụng gì?

Mẹ đã mua cho em các tác phẩm sau của Tô Hoài:
– Dế Mèn phiêu lưu ký (truyện dài, 1941).
– Giăng thề (tập truyện ngắn, 1941).
– O chuột (tập truyện ngắn, 1942).
– Quê người (tiểu thuyết, 1942).

Đáp án: A. Các dấu gạch ngang ở đầu mỗi dòng dùng để đánh dấu các ý liệt kê (danh sách các tác phẩm).

Câu 9. (1 điểm) Dựa vào các bức tranh sau, em hãy:

a) Đặt một câu hỏi:

tranh a
Câu gợi ý: Hai bạn nhỏ đang làm gì? (Em có thể đặt câu hỏi khác phù hợp với tranh, nhớ có dấu chấm hỏi ở cuối.)

b) Đặt một câu kể:

tranh b
Câu gợi ý: Em được mẹ đưa đi học. (Em có thể đặt câu kể khác phù hợp với tranh, nhớ có dấu chấm ở cuối.)

Câu 10. (1 điểm) Hãy gạch chân (chỉ ra) các từ chỉ hoạt động, đặc điểm của người được dùng để kể, tả các sự vật trong những câu văn sau:

a) Dòng sông cả mệt mỏi trôi về cuối thượng nguồn.
b) Giọt sương nhẹ nhàng, ôm lấy những chiếc lá non.
c) Nắng vàng nhảy nhót như những chú bé tinh nghịch.
d) Ngọn cỏ e thẹn, cúi đầu, che giấu những giọt sương mai.

Đáp án (các từ cần gạch chân):
a) mệt mỏi, trôi
b) nhẹ nhàng, ôm
c) nhảy nhót, tinh nghịch
d) e thẹn, cúi đầu, che giấu

B. PHẦN KIỂM TRA VIẾT (Tập làm văn)

✍️ Đề bài: Em hãy viết một kết thúc khác cho câu chuyện “Bài học quý”.

(Bài học quý kể về chú Sẻ kiêu ngạo, ích kỉ giấu Chích những hạt kê để ăn một mình. Em hãy tưởng tượng và viết một cái kết mới cho câu chuyện.)

Em hãy làm theo từng bước sau:

Bước 1 – Mở đầu: Giới thiệu về câu chuyện “Bài học quý” và hai nhân vật Sẻ, Chích.

“Bài học quý” là câu chuyện mà em rất yêu thích, kể về tình bạn giữa Chích và Sẻ. Sẻ vốn ích kỉ, đã giấu Chích những hạt kê để ăn một mình.

Bước 2 – Triển khai (viết cái kết mới): Điều gì xảy ra sau đó? Sẻ nhận ra lỗi lầm và thay đổi như thế nào?

Khi được Chích cho những hạt kê còn lại, Sẻ rất xấu hổ vì đã ích kỉ ăn một mình mà không mời Chích. Sẻ liền bay qua nhà bà ngoại xin thêm hạt kê để tặng lại cho Chích. Sẻ đã nhận được một bài học và tự nhủ sẽ không bao giờ ích kỉ, tham ăn như vậy nữa. Sẻ xin lỗi Chích, và Chích đã tha thứ cho bạn. Từ đó, đôi bạn luôn chia sẻ cho nhau những gì mình có.

Bước 3 – Kết thúc: Nêu suy nghĩ, cảm xúc của em về cái kết mới và bài học rút ra.

Em rất thích cái kết này vì nó cho thấy ai cũng có thể sửa lỗi để trở thành người tốt hơn. Câu chuyện nhắc em bài học: trong cuộc sống phải biết chia sẻ, không nên ích kỉ, có như vậy tình bạn mới bền lâu.
    “Bài học quý” là câu chuyện mà em rất yêu thích, kể về tình bạn giữa Chích và Sẻ. Khi được Chích cho những hạt kê còn lại, Sẻ rất xấu hổ vì đã ích kỉ ngồi ăn một mình mà không mời bạn. Cảm động trước tấm lòng tốt bụng của Chích, Sẻ đã nhận ra một bài học quý giá: phải biết chia sẻ, không bao giờ ích kỉ, tham ăn như vậy nữa. Sẻ bay đi xin thêm hạt kê mang về tặng Chích và xin lỗi bạn. Chích mỉm cười tha thứ. Từ đó, đôi bạn Sẻ và Chích luôn yêu thương, chia sẻ cho nhau mọi thứ. Em nhận ra rằng: biết chia sẻ và sửa lỗi sẽ giúp tình bạn ngày càng thêm gắn bó.

🌟 Hoàn thành! Chúc em học tốt! 🌟